Vai trò của giao tiếp

     Giao tiếp có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Qua giao tiếp, con người hình thành nên những mối quan hệ xã hội. Sự phong phú của các mối quan hệ xã hội sẽ làm phong phú đời sống nhân cách con người. Những nét đặc trưng của tâm lý con người như ngôn ngữ, ý thức, tình cảm… được hình thành va phát triển trong giao tiếp.

     Qua giao tiếp con người hưởng thụ và tiếp thu những thành tựu phát triển vãn hoá, khoa học; lĩnh hội những giá trị vật chất và phi vật chất như lương tâm, trách nhiệm, lòng tự trọng… của xã hội loài người. Bằng tấm gương của đối tượng giao tiếp mà chủ thể soi lại mình, tự điều chỉnh mình cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội.

Vai trò của giao tiếp

     Trong hoạt động quản lý giao tiếp có mặt ở tất cả các khâu của hoạt động quản lý (trực tiếp hay gián tiếp). Có thể nói phần lớn thời gian trong ngày làm việc của người quản lý, lãnh đạo dành cho việc giao tiếp với người khác, với các đơn vị. Việc hoàn thành nhiệm vụ của họ phụ thuộc rất nhiều vào kết quả hoạt động này.

     C. Mác nói: Sự phát triển của mỗi cá nhân được quy định hi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp.

       Cùng với hoạt động, giao tiếp là phương thức tồn tại của loài người. Xã hội càng phát triển thì giao tiếp càng phong phú, phương tiện giao tiếp càng phức tạp. Giao tiếp ngày càng đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề của xã hội, của đời sống con người.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tài liệu quản lý nhà nước

Những lợi ích của giao tiếp đem lại

- Giao tiếp dù mang mục đích gì chăng nữa cũng đều diễn ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan… của những người tham gia vào quá trình giao tiếp. Nhờ đặc trưng này mà mỗi người tự hoàn thiện mình theo yêu cầu đòi hỏi nghề nghiệp, của các quan hệ xã hội mà họ là thành viên. Nhờ có đặc trưng này những phẩm chất tâm lý, hành vi ứng xử của con người được nảy sinh, phát triển theo các mẫu hình, chuẩn mực. Cũng nhờ đặc trưng này quá trình xã hội hóa mới thực chất hòa nhập mỗi cá nhân vào các hoạt động của nhóm, cộng đồng dân tộc, địa phương.

Những lợi ích của giao tiếp đem lại

- Giao tiếp bao giờ cũng dẫn đến sự nhận thức, hiểu biết lẫn nhau. Sự nhận thức hiểu biết lẫn nhau vừa là nguyên nhân vừa là kết quả, phải nhận thức dù là ít về đối tượng giao tiếp của mình. Có như vậy kêt quả giao tiếp mới thành công và từ nền tảng của các lần giao tiếp của cả đối tượng giao tiếp và chủ thể giao tiếp mới dần dần hiểu biết lẫn nhau. Sự nhận thức và hiểu biết lẫn nhau không chỉ có ý nghĩa làm cho tiến trình giao tiếp sau đó thành công mà còn rút ngắn thời gian, đẩy nhanh tốc độ giao tiếp. Hiểu biết lẩn nhau đem lại sự thông cảm, đồng cảm, giúp đỡ lẫn nhau, thậm chí cứu vớt lẫn nhau để từng con người cũng như nhóm người, tập thể người, cộng đồng người, xã hội loài người tổn tại và phát triển. Chẳng hạn, khi người lãnh đạo đã hiểu được cá tính, năng lực của nhân viên thì việc phân công phân nhiộm, trao đổi công việc… sẽ hiệu quả hơn.

- Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội. Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện trong giao tiếp giữa con người với con người. Con người vừa là thành viên tích cực của các quan hệ xã hội với tư cách tạo lập nên các quan hệ xã hội như pháp quyền, kinh tế, văn hóa… với tư cách nữa là phải hoạt động tích cực cho sự tồn tại và phát triển của chính các quan hệ đó. Trong hoạt động quản lý, quan hệ giữa người quản lý và người dưới quyền là một quan hê xã hội đích thực, một tồn tại xã hội khách quan do cả hai phía (người quản lý và người dưới quyền) tạo dựng.

- Giao tiếp có nội dung xã hội rất cụ thể được thực hiện trong một hoàn cảnh nhất định, nghĩa là giao tiếp được tiến hành trong không gian, thời gian ra các điều kiện cụ thể. Nói một cách khác, giao tiếp cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển xã hội loài người. Đây là một đặc trưng cơ bản mà nhờ đó các nhà đạo diễn, nhà văn… đã tạo dựng nên những bộ phim, tác phẩm văn học giúp cho con người nhận thức được sự kế thừa và phát triển các chuẩn mực trong giao tiếp, các phương tiện giao tiếp…

    Từ phân tích trên, có thể hiểu giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa những con người nhất định trong xã hội, nhầm trao đổi thông tin, tình cám, hiểu biết, vốn sống… tạo nên những ảnh hưởng, những tác động qua lại để con người đánh giá, diều chỉnh và phối hợp với nhau trong công việc.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: nhận thức tư tưởng chính trị

Khái niệm của giao tiếp

     A. V Xukhômlinxki đã viết: “Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu vĩ đại nhất trong các nhu cầu của con người, không được đặt nó ngang hàng với các loại nhu cầu khác”.

     Đời sống tâm lý của mỗi người, của mỗi nhóm xã hội phải lấy giao tiếp làm cơ sở. Không có giao tiếp đứa trẻ không thể thành người, không có giao tiếp nhiều chức năng tâm lý người, nhiều phẩm chất tâm lý cá nhân không được hình thành và phát triển. Trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội, bản thân, con người luôn luôn lấy sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, con người với các quan hệ xã hội là trung tâm.

     Giao tiếp là hoạt động mang tính xã hội. Tuỳ theo tính chất mối quan hệ xã hội giữa các chủ thể tham gia giao tiếp mà có cách ứng xử khác nhau. Trong hoạt động giao tiếp hành chính – công vụ, người công chức vừa phải tuân thủ những nguyên tấc của giao tiếp nói chung vừa phải chú ý tới những yêu cầu riêng của giao tiếp hành chính – công vụ.

     Trong công tác quản lý, hoạt động giao tiếp thường xuyên diễn ra: giao tiếp giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các nhóm làm việc, giữa cá nhân và cá nhân… Nhà quản lý, lãnh đạo có năng lực giao tiếp tốt sẽ giúp cho cồng tác quản lý lãnh đạo đạt hiệu quả cao hơn.

 Khái niệm

      Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp:

- Dưới góc độ thông tin coi giao tiếp là một quá trình trao đổi, truyền đạt thông tin.

- Dưới góc độ tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau:

+ Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con người với con người, có nội dung là sự nhận thức và trao đổi thông tin, với sự giúp đỡ của các phương tiện khác nhau, nhằm mục đích thông báo và xây dựng mối quan hệ có lợi cho hoạt động của con người.

+ Giao tiếp là những thông điệp về nhận thức, tình cảm thuộc về ý thức hay vô thức, nhờ một mạng lưới hay một hệ thống truyền thông tin giữa những người cùng đối thoại.

Khái niệm của giao tiếp

     Như vậy, có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về giao tiếp, song nội dung đều hàm chứa những dấu hiệu đặc trưng sau đây:

     Giao tiếp là hoạt động đặc thù của con người,chỉ riêng con người mới có. Giao tiếp là một qua con người ý thức được mục đích, nội dung và những phương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác (cả đối tượng và chủ thể giao tiếp đều ý thức được đầy đủ những nội dung và diễn biến tâm lý của mình trong giao tiếp). Nhờ có đặc trưng cơ bản này, chúng ta dễ dàng nhận ra được mục đích của quá trình giao tiếp, giao tiếp để làm gì? Nhằm mục đích gì? Nội dung cơ bản của giao tiếp xuất phát từ nhu cầu tiếp xúc với người khác.

     Nhu cầu tiếp xúc với những người khác trở thành tâm thế của mỗi người để cùng hợp tác với nhau, cùng kết bạn với nhau, hướng tới mục đích trong lao động, học tập, vui chơi…



Từ khóa tìm kiếm nhiều: về tư tưởng chính trị

Những biện pháp giải quyết xung đột

    Sau đây là những biện pháp thường được dùng để giải quyết xung đột:

Biện pháp thuyết phục:

     Đây là biện pháp dùng người thứ ba đứng ra làm trung gian hòa giải. Biện pháp này được sử dụng khi cuộc xung đột tương đồng đã biến thành cuộc xung đột phức tạp, hai bên tham gia xung đột đã không còn tự thương lượng, hòa giải được với nhau. Người đóng vai trò làm trung gian hòa giải phải là người có uy tín trong tổ chức.

     Một số trường hợp đặc biệt, người đứng ra làm trung gian hòa giải có thể là người lãnh đạo ở đơn vị khác, không có quyền lợi cá nhân liên quan đến các bên xung đột. Vai trò của người trung gian hòa giải là làm cho hai bên đều tin tưởng vào mình để xác định được nguyên nhân đích thực của cuộc xung đột. giúp họ hiểu nhau hơn và có thể thỏa hiệp, nhượng bộ lẫn nhau. Vì vậy, người làm trung gian hòa giải cần phải can thiệp kịp thời vào cuộc xung đột và phải tự tin trong hành động của mình. Nếu sau khi dùng biện pháp thuyết phục như trên vẫn không giải quyết được xung đột thì cần áp dụng biện pháp hành chính, đó là:

Những biện pháp giải quyết xung đột

Chia tách những người tham gia xung đột

     Biện pháp này cần được áp dụng trong trường hợp sau khi đã dùng biện pháp thuyết phục nhưng không mang lại kết quả, xung đột vẫn tiếp tục, kéo dài; hoặc trong trường hợp xét thấy không thể sử dụng các biện pháp khác. Đây là biện pháp chuyên một bôn xung đột sang đơn vị, sở khác trong một tập thể, hoặc đưa một bên xung đột ra khỏi tập thể.

 Tìm mọi biện pháp chặn đứng cuộc xung đột

     Từ mệnh lệnh bằng lời nói, dùng áp lực của quần chúng,… đến sự can thiệp của chính quyền và cơ quan an ninh.

     Đây là những phương pháp cơ bản giải quyết xung đột. Tuy nhiên, hiệu quả giải quyết xung đột phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh, nghệ thuật xử lý của người lãnh đạo, quản lý.

     Xung đột thường xảy ra với kết quả tiêu cực, nhưng cũng có xung đột mang tính tích cực như ma sát đem dến ngọn lửa cho loài người. Khi giải quyết xung đột cần dựa trên nguyên tắc “hai bên cùng thắng”.


Xung đột trong phòng tạp chí

     Phòng tạp chí của cơ quan X vừa đón nhân một trưởng phòng mới được bổ nhiệm về thay thế người trưởng phòng cũ đến tuổi nghỉ hưu. Ông A, trưởng phòng mới, trước đây là phụ trách của một phận khác của cơ quan, là người đã từng có mối quan hệ công tác thường xuyên với phòng tạp chí. Qua những lần làm việc đó, ông đã có những nhận xét riêng của mình về cách thức quản lý của người trưởng phòng cũ.

     Ấn tượng về cảnh tượng các phòng làm việc trống vắng, chỉ đôi lúc xôn xao bởi sự xuất hiện của một vài phóng viên hoặc biên tập viên tạt qua vì một việc gì đó hoặc đơn giản chỉ vì lâu lâu không đến phòng; khách đến liên hệ công tác nhiều khi lúng túng…, ông A đã có những ý nghĩ không hoàn toàn đồng ý với cách thức quản lý của người trưởng phòng đương nhiệm. Một thời gian sau khi được bổ nhiệm, việc đầu tiên ông A tiến hành là đưa ra một quy chế làm việc mới thay thế cách thức làm việc trước đây. Nếu như trước đây nhân viên được quản lý theo công việc thì nay họ được quản lý theo giờ giấc. Lịch làm việccủa mỗi cá nhân được sắp xếp chặt chẽ không chỉ theo tháng mà còn cho hàng tuần. Đầu tuần mỗi cá nhân phải báo cáo lịch làm việc hàng ngày, cụ thể đến từng giờ. Sự thay đổi được thể hiện rõ trong quang cảnh làm việc của phòng: các phòng làm việc được bố trí lại hợp lý hơn, lúc nào cũng gọn gàng, ngăn nắp. Giờ làm việc các phóng viên, biên tập viên, nếu như không có kế hoạch đi đạt bài, lấy tin… thì ai vào việc nấy, ngồi ngay ngắn sau các bàn làm việc. Cảm nhận đầu tiên của bất cứ ai mỗi khi bước vào phòng là một không khí làm việc trang nghiêm của phòng tạp chí.

Xung đột trong phòng tạp chí

     Tuy nhiên, sau một thời gian đã xuất hiện những phàn nàn từ phía các nhân viên. Họ phàn nàn vì tính chất công việc của các phóng viên, biên tập viên đòi hỏi phải đi rangoài nhiều, thời gian cho công việc khó có thể quy định một cách cụ thể. Cách quản lý theo giờ giấc hành chính, sự kiểm soát gắt gao và thái độ nghiêm khắc của trưởng phòng mỗi khi họ vi phạm giờ giấc… đã làm họ thấy lúng túng, mệt mỏi. Họ đều là những người làm việc lâu năm, có kinh nghiệm và có trách nhiệm với công việc. D, một nữ biên tập viên có uy tín làm việc tại tạp chí trên 10 năm, đã cảm thấy căng thẳng khi hàng ngày phải đảm bảo đúng 8h vào buổi sáng và lh30 vào buổi chiều có mặt tại phòng, cho dù ngày hôm đó chị có lịch làm việc với bên ngoài. Chồng chị thường xuyên đi công tác xa nhà, con lại còn nhỏ. Đã một số lần chị đến phòng muộn 5-10 phút. Và ngay ngày hôm qua, do bị tắc đường khi đưa con đi học, chị đã đến chậm buổi họp phòng. Khi bước vào phòng, trưởng phòng đãkhông nói gì và lặng lẽ nhìn lên chiếc đồng hồ trên tưởng. Chậm 15 phút.D thở dài, chị cảm thấy buồn và lo lắng. Công việc của một biên tập viên chị vẫn hoàn thành tốt. Chỉ có một điều… Nhiều đồng nghiệp cũng có tâm trạng như D. Một vài người đang có ý định chuyển công tác.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: tư tưởng chính trị